CIHP.org
Đang tải dữ liệu...
 TIẾNG VIỆT | ENGLISH
Đăng ký   Đăng nhập

 Trang chủ | Giới thiệu CIHP | Thư viện CIHP | Các dự án | Chuyên san | Thuật ngữ | Webmail 
Tìm kiếm
  Giới thiệu CIHP
  Thông Báo
  Các dự án
  Hoạt động CIHP
  Dự án
  Nghiên cứu/Đánh giá
  Đào tạo
  Hoạt động CCIHP
  Ấn phẩm CIHP
  Thư viện
  Liên hệ
  Bản đồ site
Liên kết
Đối tác


 

Trang chủ    Nghiên cứu/Đánh giá
Nghiên cứu quốc gia lần thứ nhất về Bạo lực gia đình chống lại phụ nữ ở Việt Nam: Những con số cần suy nghĩ
04:01' AM - Thứ hai, 07/02/2011

Luật phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam ra đời đòi hỏi cần có các số liệu ở cấp quốc gia để giúp cho việc theo dõi giám sát quá trình thực hiên luật và cung cấp bằng chứng cho việc phát triển các chính sách và chương trình phòng chống bạo lực gia đình phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Đứng trước yêu cầu cấp thiết này, trong thời gian 2009-2010 Tổng cục Thống kê với sự hỗ trợ kĩ thuật và tài chính của Tổ chức Y tế thế giới và Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã thực hiện nghiên cứu quốc gia lần đầu tiên tại Việt Nam về bạo lực gia đình. Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số được mời thực hiện cấu phần định tính trong nghiên cứu. Do hạn chế về thời gian và kinh phí, nghiên cứu lần này chỉ tâp trung vào bạo lực gia đình chống lại phụ nữ. Báo cáo nghiên cứu đã được công bố vào đúng ngày 25 tháng 11 năm 2010, nhân dịp kỉ niệm ngày thế giới phòng chống bạo lực đối với phụ nữ.

Tổng số gần 5000 phụ nữ ở 63 tỉnh thành phố ở Việt Nam đã được lựa chọn ngẫu nhiên để tham gia vào điều tra sử dụng bảng hỏi có cấu trúc. Họ được hỏi về tình trạng bị bạo lực cũng như các ảnh hưởng của bạo lực lên tình hình sức khỏe của họ. Ngoài ra, khoảng 60 phụ nữ và 60 nam giới tại ba tỉnh Hà Nội, Huế và Bến Tre cũng được lựa chọn tham gia phỏng vấn sâu và các thảo luận nhóm nhằm cung cấp thêm thông tin cho cấu phần nghiên cứu định lượng. 15 phụ nữ đã được xác định là người bị bạo lực gia đình cũng được mời tham gia vào phần nghiên cứu định tính.

Kết quả nghiên cứu cho thấy bạo lực gia đình khá phổ biến ở Việt Nam. Các số liệu về tình hình bạo lực ở cấp quốc gia cũng khá tương đồng với các nghiên cứu nhỏ lẻ đã được tiến hành rải rác trước đây về bạo lực gia đình và bạo lực giới. Cụ thể, số liệu cho thấy cứ một trong ba phụ nữ đã từng kết hôn (34%) cho biết đã từng bị bạo lực thể xác hoặc tình dục do chồng hoặc bạn tình gây ra. Tuy nhiên số phụ nữ hiện tại vẫn đang bị bạo lực chỉ có 9%. Điều tra cũng xác định mức độ phổ biến của bạo lực tình dục. Cứ 10 phụ nữ đã từng kết hôn thì lại có một người cho biết đã từng bị bạo lực tình dục do chính chồng của mình gây ra. Điều này khẳng định bạo lực tình dục trong hôn nhân là có và con số thực tế có thể còn cao hơn thế. Đặc biệt số phụ nữ cho biết đã từng bị bạo lực tinh thần là rất cao. Khoảng 58% phụ nữ cho biết họ đã từng bị ít nhất một loại hình bạo lực trong số ba loại hình là bạo lực thể xác và tình dục. Trong số đó, số phụ nữ bị bạo lực trong 12 tháng qua là 27%.

Một phát hiện quan trọng nữa của nghiên cứu là nguy cơ bị bạo lực gia đình của phụ nữ là khá cao. Ở một số khu vực thì cứ 4 trong 10 phụ nữ gia đình không phải là nơi an toàn cho họ. Tỷ lệ này là 42% ở các nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, bạo lực gia đình lại rất thấp ở một số nhóm dân tộc thiểu số. Ví dụ trong số những phụ nữ H’mong: 8% người trong số họ đã từng bị bạo lực và chỉ 3% phụ nữ hiện đang bị bạo lực. Tuy nhiên, điều này không cho phép kết luận là tình trạng bình đẳng giới hay cá tính của người đàn ông H’ mong. Con số bạo lực thấp này có thể là một chỉ báo cho thấy tình trạng bất bình đẳng giới còn rất nặng nề ở người H’ mong. Ở dân tộc này nam giới ở vị trí cao trong gia đình và do vậy họ không cần dùng bạo lực để tăng thêm quyền lực cho mình nữa. Tuy nhiên, khi xã hội thay đổi thì bạo lực trong dân tộc có thể sẽ lại tăng. Một yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu là trở ngại về ngôn ngữ.

Đặc biệt lưu ý là nghiên cứu cho thấy đối tượng gây bạo lực với phụ nữ chủ yếu lại là chính chồng của họ. Chính vì thế nhiều phụ nữ không dám nói ra và không dám tìm kiếm sự trợ giúp khi bị bạo lực gia đình. Thật đáng lo ngại khi nghiên cứu chỉ ra rằng trên một nửa phụ nữ bị bạo lực chưa bao giờ nói về vấn đề này với bất cứ ai kể cả người thân thiết nhất trong gia đình như mẹ hay chị gái. Thực tê, các phỏng vấn sâu cho thấy nhiều khi chính mẹ và chị gái lại là người đổ lỗi và lên án người phụ nữ nhiều nhất. Trong nhiều trường hợp người phụ nữ không dám nói với mẹ vì sợ làm mẹ buồn và làm mất danh tiếng của cả gia đình. Chỉ có 10% phụ nữ bị bạo lực bởi chồng dám đi tìm sự trợ giúp của lãnh đạo chính quyền, công an và các nhân viên y tế. Họ thường là những người bị bạo lực rất nặng. Tuy nhiên, nghiên cứu định tính cũng chỉ ra rằng chính quyền, công an và nhân viên y tế, nếu không ở khu vực dự án thì thường có thái độ không phù hợp với bạo lực gia đình và do vậy không thể can thiệp hiệu quả.

Những ông ấy chị cứ phải tránh cho xa. Kiến thức các ông ấy còn không bằng mình mà nhà nó [chồng] quen hết từ huyện đến xã làm sao mà các ông ấy đến can thiệp cho mình được.

Tư tưởng bạo lực gia đình là chuyện gia đình và người phụ nữ phải tự giải quyết cũng còn rất phổ biến. Đây chính là lý do khiến việc triển khai luật phòng chống bạo lực gia đình bị hạn chế và người phụ nữ lại bị tăng nguy cơ bị bạo lực bởi chính những người mà họ tìm đến để giúp đỡ.

“Khi anh ấy mà đe dọa em quá, em đến nhà trưởng thôn đề nghị giúp đỡ. Nhưng ông ấy không nghe em. Ông ấy bảo ‘đây là vấn đề gia đình mày, mày muốn làm gì thì làm.”

Kết quả nghiên cứu khẳng định các hệ lụy về sức khỏe của bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Cứ 4 phụ nữ bị chồng bạo lực thể xác hoặc tình dục thì có 1 người cho biết đã từng bị các tổn thương về thể chất. Hơn một nửa cho biết đã từng bị nhiều lần. Phụ nữ bị bạo lực gia đình bị các vấn đề về sức khỏe nhiều hơn gấp hai lần so với những phụ nữ không phải chịu bạo lực. Phụ nữ bị bạo lực gia đình cũng thường có ý định tự tử cao gấp ba lần so với những phụ nữ bình thường. Các ảnh hưởng về sức khỏe thường tồn tại trong thời gian dài sau khi bạo lực xảy ra.

Một điều đau lòng là phụ nữ mang thai cũng không tránh khỏi bị bạo lực. Khoảng 5% phụ nữ cho biết họ bị đánh khi đang mang thai. Thậm chí khoảng một phần tư trong số họ đã bị đánh và đấm vào bụng. Trong hầu hết trường hợp, người gây bạo lực chính là cha của đứa trẻ mà họ đang mang trong bụng.

Một điều quan trọng nữa là nghiên cứu đã khẳng định ảnh hưởng của bạo lực lên trẻ em. Trẻ em cũng là nạn nhân của bạo lực gia đình do việc chính các em cũng bị bạo lực hoặc bị tác động bởi việc sống trong ngôi nhà mà mẹ các em bị bạo lực. 25% phụ nữ có con dưới 15 tuổi cho biết các con của họ cũng thường xuyên bị bố tát. Trẻ em 6-11 tuổi sống trong các gia đình mà mẹ bị bạo lực cũng cho thể hiện nhiều vấn đề về hành vi hơn so với các trẻ khác ví dụ như gặp ác mộng, đái dầm, hung hãn và học kém.

Kết quả của nghiên cứu cũng chứng minh rằng bạo lực không phải là tự nhiên do bản tính mà là một quá trình và bị ảnh hưởng bởi giáo dục. Những người nam giới gây bạo lực thì thường có người cha bạo lực và bản thân anh ta cũng bị bố gây bạo lực lúc nhỏ. Tuổi thơ bị bạo lực của người chồng là một yếu tố nguy cơ quan trọng liên quan đến việc anh ta có khả năng sẽ gây bạo lực trong tương lai.

Như vậy kết quả nghiên cứu đã cho thấy một thực tế rõ ràng là bạo lực gia đình mặc dù phổ biến nhưng vẫn còn là một vấn đề ‘im lặng’ khi còn có quá nhiều phụ nữ bị bạo lực không dám nói ra và không dám đi tìm sự hỗ trợ. Đây chính là lý do để nhóm nghiên cứu chọn tên cho báo cáo của nghiên cứu quốc gia lần đầu tiên này là ‘Im lặng là chết đấy’. Đây là câu trích dẫn từ một phỏng vấn với phụ nữ bị bạo lực ở Hà Nội. Tuy nhiên, để người phụ nữ không im lặng thì đấy chính là trách nhiệm của chính quyền, của các cơ quan tổ chức trong việc tạo một môi trường ủng hộ để người phụ nữ dám nói ra. Nghiên cứu cũng cho thấy phòng chống bạo lực gia đình không phải chỉ là việc của một ngành một cấp. Chúng ta cần sự phối hợp đồng bộ của văn hóa, y tế, giáo dục, công an, tòa án và chính quyền để đảm bảo can thiệp không chỉ về ngăn ngừa bạo lực đối với phụ nữ mà còn cả vấn đề sức khỏe trong đó có sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và HIV và đặc biệt là sức khỏe tinh thần. Trong khi tỷ lệ bạo lực tinh thần ở Việt Nam rất cao thì chăm sóc sức khỏe tinh thần dường như vẫn là một khoảng trống trong chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam. Lồng ghép phòng chống bạo lực gia đình vào trường học cũng rất quan trọng để đảm bảo có thể can thiệp kịp thời các hệ lụy của bạo lực lên cuộc sống và học tập của trẻ em. Bên cạnh đó, trẻ em đặc biệt là trẻ em trai và thanh niên cũng cần được giáo dục từ sớm về giới và bạo lực để có thể hình thành các nhân cách tích cực và nuôi dưỡng các cách ứng xử không bạo lực.

Bạn đọc quan tâm có thể tải nội dung chi tiết của báo cáo tiếng Việt và tiếng Anh theo đường link dưới đây:

http://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=487&ItemID=10692

http://www.gso.gov.vn/default_en.aspx?tabid=487&ItemID=10693



“Tôi nghĩ người phụ nữ bị bạo lực cần lên tiếng và kêu gọi sự giúp đơ từ tư vấn. Tùy tình hình nhưng chúng ta không nên giữ im lặng, im lặng là chết.”

Hoàng Tú Anh
Số lượt đọc:  1010  -  Cập nhật lần cuối:  08/02/2011 01:46:08 AM
  • Nghiên cứu: "Hội chứng tự kỷ ở Hà Nội, Việt Nam: Những hiểu biết từ trải nghiệm sống của thanh thiếu niên tự kỷ và cha mẹ”.  (30/12)  
  • Quyền sinh sản và Tình dục của Thanh niên khuyết tật Việt Nam  (15/05)  
  • Nghiên cứu hành động: Phòng chống bạo hành đối với MSM  (23/04)  
  • Nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố nguy cơ và bảo vệ của tình trạng các bạn trẻ bắt đầu thử/sử dụng ma túy tại Việt Nam
  •  (09/01/2009)
  • Mối liên hệ giữa giới, nâng cao vị thế và sức khoẻ sinh sản tại Việt Nam
  •  (11/10/2005)
  • Nghiên cứu:Tác động của chương trình hành động Cairo đến Giới, Nâng cao vị thế phụ nữ và Sức khoẻ sinh sản tại bốn cộng đồng dân cư của Việt Nam
  •  (11/10/2005)
  • Hoạt động nghiên cứu và đánh giá
  •  (16/06/2005)
    Thông báo

     Trang chủ | Giới thiệu | Bản đồ site | Điều khoản sử dụng | Góp ý | Liên hệ