Để có thể hòa nhập thực sự với cuộc sống xung quanh, người khuyết tật đã và đang nhận được sự quan tâm của xã hội trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và việc làm. Thế nhưng, vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục của họ lại gần như bị bỏ qua bởi những quan điểm sai lầm như người khuyết tật là người vô tính hay không có khả năng kích thích ham muốn....
Nhằm xóa bỏ những hiểu lầm này, Trung tâm Sáng kiến sức khỏe và dân số đã thực hiện nghiên cứu: “Quyền sinh sản và tình dục của thanh thiếu niên khuyết tật Việt Nam” từ tháng 10 đến tháng 11 năm 2010 tại hai tỉnh Hà Nội và Thái Bình.
Là nghiên cứu tiên phong trong vấn đề sức khỏe sinh sản và tình dục của người khuyết tật, thế nên khi được trình bày tại Hội nghi Y tế công cộng toàn quốc lần thứ 7 tại Hà Nội, nghiên cứu này đã đưa ra những phát hiện gây bất ngờ cho nhiều người. Đầu tiên, đó là nguyên nhân khiến nhóm người thiểu số này gặp khó khăn trong việc tìm kiếm người yêu và kết hôn đó chính là do khuôn mẫu xã hội. Khuôn mẫu xã hội với những “luật bất thành văn” như tình yêu phải gắn liền với hôn nhân, hôn nhân phải gắn liền với việc sinh con đẻ cái đã làm cho nhiều người khuyết tật “chùn bước” trước con đường đi tìm hạnh phúc bởi lý do: một người khuyết tật như mình khi kết hôn sẽ mang lại gánh nặng cho người khác. Hơn nữa, hôn nhân mà không có con cái thì sớm muộn gì vợ chồng cũng bỏ nhau, mà nếu sinh con thì với những người khuyết tật bẩm sinh, khả năng di truyền sự thiệt thòi này cho thế hệ sau là rất lớn... Và như vậy, hạnh phúc gia đình cũng khó giữ được.
Không chỉ vậy, với quan niệm phụ nữ phải là người tề gia nội trợ, chăm lo việc đối nội, đối ngoại, những người phụ nữ khuyết tật càng khó khăn hơn trong việc tìm kiếm cho con tim mình một chỗ dựa bởi rõ ràng, họ không thể đảm đương được tất cả các yêu cầu ấy. Nhiều người khi nhìn vào những yếu tố này sẽ nói rằng: tất cả là do họ tự ti, thế nhưng rõ ràng khuôn mẫu xã hội chính là nguyên nhân trực tiếp khiến họ không tự tin vào bản thân mình
Ngoài việc khiến cho chính những người trong cuộc cảm thấy tự ti, khuôn mẫu xã hội còn là lý do khiến nhiều gia đình phản đối hôn nhân của người khuyết tật. Chẳng hạn, đối với những người có con bình thường, họ luôn lo sợ mọi người xung quanh chê cười khi con mình không dưng lại lấy một người bị khiếm khuyết về làm vợ, làm chồng. Lối suy nghĩ phải “môn đăng hộ đối” này đã khiến nhiều tình yêu bị chia rẽ. Thậm chí, khi đã nên vợ nên chồng, họ cũng không nhận được lời chúc phúc.
Bên cạnh khuôn mẫu về tình yêu, người khuyết tật còn bị chi phối bởi một khuôn mẫu xã hội khác đó là: hôn nhân gắn liền với tình dục (và ngược lại), tình dục gắn liền với sinh con. Chính khuôn mẫu này đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc thực hiện quyền sinh sản và tình dục của nhóm người khuyết tật. Hầu hết những người tham gia phỏng vấn trong nghiên cứu đều khẳng định họ không quan hệ tình dục trước hôn nhân, thế nên với những người không (hoặc chưa kết hôn), họ chấp nhận nói không với tình dục như một điều hiển nhiên và hầu hết không có nhu cầu tìm hiểu những thông tin liên quan đến đời sống gối chăn.
Với suy nghĩ, tình dục chỉ là để duy trì nòi giống, nhiều người nữ khuyết tật đã bỏ qua các ý nghĩa khác của chuyện phòng the. Bởi thế, với những người dám chấp nhận việc quan hệ tình dục trước hôn nhân, mong muốn đầu tiên của họ là có thể “kiếm” được đứa con để có chỗ nương tựa về sau. Còn với nhiều người đã kết hôn, họ chấp nhận đời sống tình dục gặp nhiều trục trặc và chỉ tìm cách chữa chạy nếu như nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc sinh con đẻ cái.
Mặc dù đã nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội, thế nhưng người khuyết tật vẫn chưa thể tiếp cận được với những thông tin về sức khỏe sinh sản, tình dục phù hợp với dạng tật của mình. Hầu hết các kiến thức mà họ nhận được đều là những thông tin suy rộng ra cho mình từ trường hợp của những người bình thường khác. Ngay cả ở những hội đặc thù (như Hội người mù Việt Nam - một hội khuyết tật khá mạnh) cũng không hề có những thông tin chuyên biệt dành riêng cho họ. Chẳng hạn, khi bị thiếu hụt về hình ảnh, người khiếm thị vẫn chưa nhận được thông tin làm thế nào để bù đắp sự khiếm khuyết ấy trong quan hệ tình dục với bạn tình.
Các kênh thông tin về sức khỏe sinh sản và tình dục mà người khuyết tật có thể nhận được chủ yếu qua đài, báo, tivi, đặc biệt là internet. Có rất ít người khuyết tật nhìn có thể tiếp cận với các tài liệu bằng chữ nổi về vấn đề nhạy cảm này và càng ít hơn nữa những người khiếm thính biết đến những tài liệu này bằng ngôn ngữ kí hiệu. Người khiếm thính cũng cho rằng thông tin trên các phương tiện truyền thông rất khó hiểu với họ bởi thông thường khi đọc các thông tin ấy, họ chỉ có thể hiểu 20 đến 30% nội dụng truyền tải.
Không chỉ thông tin thiếu hụt, các cơ sở hạ tầng tại nơi chăm sóc sức khỏe sinh sản, tình dục cũng chưa thân thiện với người khuyết tật và các cán bộ ở đó cũng chưa thực sự nhạy cảm với nhóm người dễ bị tổn thương này. Tất cả các cán bộ y tế được phỏng vấn đều không được đào tạo về cách thức trao đổi với người khuyết tật khiến nhiều lúc vô tình làm họ tổn thương. Bên cạnh đó, nhiều người còn không thực sự nhiệt tình khi chỉ dẫn người khuyết tật sử dụng dịch vụ và điều này làm họ cảm thấy ngại sử dụng các dịch vụ y tế lần sau, ngay cả khi họ có bệnh.
Bàn về cơ sở hạ tầng, hầu hết người tham gia nghiên cứu đều nhận thấy rằng cầu thang bộ và lối đi lại không thuận tiện với những người khuyết tật vận động. Thang máy nếu có cũng chỉ để cho các nhân viên y tế và bệnh nhân nằm viện sử dụng. Tương tự như vậy, các biển báo hay chỉ dẫn cũng chỉ dành riêng cho người sáng mắt. Chưa có biển chữ nổi hay hướng dẫn bằng loa đài cho người khiếm thính. Không chỉ vậy, các trang thiết bị thăm khám cũng chưa thật thân thiện (ví dụ bàn khám phụ khoa khá cao khiến hầu hết người khuyết tật đều cảm thấy khó khăn khi sử dụng).
Với các phát hiện được nhận thấy, nghiên cứu này còn đưa ra một vài khuyến nghị như cần tuyên truyền vận động để phá bỏ những khuôn mẫu xã hội vô hình đã và đang tồn tại, cần làm cho mọi người hiểu rằng sự kì vọng mọi thứ luôn phải đi theo đường thẳng sẽ làm cho những người thiệt thòi chịu nhiều thiệt thòi hơn nữa. Cuộc sống vốn đa dạng nên chẳng có lý do gì để đưa mọi thứ vào một khuôn mẫu định sẵn. Để làm được việc này, trước tiên cần làm cho cộng đồng cũng như chính người khuyết tật hiểu về quyền được yêu cũng như quyền tìm hiểu các vấn đề về sức khỏe sinh sản, tình dục của mình. Đặc biệt với những gia đình có con khuyết tật, bố mẹ lại là người phải hiểu rõ vấn đề này hơn ai hết. Có như vậy việc trao đổi, động viên, định hướng cho con cái mới được thực hiện triệt để. Bên cạnh đó, những thông tin về sức khỏe sinh sản, tình dục cũng cần được truyền tải dưới nhiều hình thức, phù hợp với các dạng tật khác nhau. Cuối cùng, để người khuyết tật có thể xóa bỏ đi cảm giác ngại ngùng khi đi thăm khám các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản và tình dục, cần xây dựng các cơ sở y tế và đội ngũ cán bộ thân thiện hơn nữa. |