|
|
 |
|
 |
|
|
|
|
|
|
| | Điểm tin Giới. Tình dục số 6: Chính trị và Sức khỏe sinh sản tình dục | | 02:41' AM - Thứ ba, 24/01/2012 | | Bạn đọc thân mến, Chúng ta đều đã biết tình dục không chỉ là một phạm trù sinh học mà lớn hơn đây là một phạm trù xã hội. Một câu hỏi quan trọng nhưng thường ít được bàn luận hơn cũng như ít được nhận ra hơn đó là tình dục có phải là một phạm trù chính trị không? Chính trị đã tác động đến tình dục và sức khoẻ tình dục như thế nào cũng như tình dục đã trở thành những vấn đề chính trị như thế nào? Khi nào, trong bối cảnh nào các quan hệ tình dục riêng tư và gần gũi, ham muốn và khoái cảm không còn là vấn đề cá nhân mà được các nhóm chính trị khác nhau sử dụng để tranh đấu hay khẳng định quyền lực trên vũ đài chính trị? Những yếu tố chính trị nào ẩn sau các diễn ngôn về quyền tình dục và công bằng sức khỏe sinh sản và tình dục của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội như người đồng tính, người hành nghề mại dâm, người bị buôn bán và vị thành niên? Các câu hỏi này sẽ được trả lời trong các ấn phẩm và bài báo khoa học được giới thiệu trong bản tin số 6 “Chính trị và Sức khoẻ Sinh sản Tình dục”. Trước hết nói về việc chính trị định hình tình dục, những bàn luận của Cossman trong cuốn sách “Quyền công dân trong tình dục: các quy định luật pháp và văn hóa về tình dục và các mối quan hệ liên quan” (Sexual citizens: the legal and cultural regulation of sex and belonging) đã cho thấy một cách rõ ràng rằng hành vi tình dục của các cá nhân ở những nơi riêng tư thực sự không phải chỉ là vấn đề riêng của cá nhân như nhiều người vẫn nghĩ mà cũng là đối tượng điều chỉnh của các qui định và luật pháp. Có được quyền công dân về mặt xã hội không nhất thiết đồng nghĩa với việc có được quyền công dân trong tình dục một khi tính thống soái của tình dục dị tính là công cụ kiểm soát tự động, quy định các chuẩn mực về tình dục để một người được coi là “công dân”. Và một khi đã không được coi là “công dân” trong tình dục thì các quyền công dân khác của cá nhân hay nhóm đó cũng sẽ bị ảnh hưởng. Ở cuốn sách thứ hai “Nghịch lý của tự do: Tình dục, văn hóa và quản trị tự do mới ở Việt Nam” (The ironies of freedom: Sex, culture, and neoliberal governance in VietNam), Nguyễn Võ Thu Hương đưa một ví dụ cụ thể về việc quản trị tình dục là một công cụ của quản trị xã hội và chính trị (politics) như thế nào. Những người làm nghề mại dâm ở Việt Nam sống bên lề pháp luật vì “nghề” của họ được coi là không phù hợp với quan niệm chung về đạo đức xã hội và thuần phong mỹ tục của Việt Nam, và trong những năm gần đây, nghề mại dâm được coi là có nguy cơ cao về bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV. Tuy nhiên, câu chuyện về quản trị nhà nước đối với tình dục “ngoài hôn nhân” không chỉ đơn thuần là câu chuyện về “bảo tồn giá trị văn hóa”, “giữ gìn trật tự xã hội” hay “bảo vệ sức khỏe của đại đa số dân chúng”, mà còn là một mô hình tranh luận (discursive model) để giúp ích cho sự dịch chuyển của xã hội Việt Nam – từ một xã hội bao cấp, đóng cửa, sang một xã hội mở cửa, theo định hướng thị trường. Tác giả nhấn mạnh rằng, “để diễn ngôn về tự do - một chức năng của tư tưởng tự do mới (neoliberalism), được tiếp tục, những thành kiến về giai cấp, giới và tình dục đã được thể chế hóa, và được sử dụng để đưa một số ít những người thuộc tầng lớp thượng lưu tiến nhanh về phía trước, trong khi những người khác (người nghèo, phụ nữ) bị mắc kẹt lại” (bình luận của Megan Douglass). Bạn đọc sẽ tìm thấy các ví dụ khác trong trong cuốn sách thứ ba “Điều tiết tình dục: Chính trị của sự riêng tư và bản dạng ”(Regulating Sex: The Politics of Intimacy and Identity) do Elizabeth Bernstein và Laurie Schaffner chủ biên. Các tác giả phân tích nhiều vấn đề tình dục khác nhau, để chỉ ra các tác động của các thể chế quốc gia và quốc tế, chính sách của các tổ chức xã hội dân sự, các phong trào chính trị và xã hội, và các diễn ngôn về tính riêng tư, tình yêu, sự ngây thơ, đến các nhóm yếu thế trong xã hội như trẻ em, người đồng tính, người làm nghề mại dâm, và đến tự do tình dục nói chung. Bảy bài báo khoa học được giới thiệu trong Bản tin này, là bảy ví dụ cụ thể cho công cụ quản trị tình dục trong quản trị xã hội của nhà nước, đặc biệt trong phòng chống HIV, mại dâm và hạn chế tình dục ngoài hôn nhân (ví dụ, tình dục của vị thành niên). Khi quản trị nhà nước đặt các công dân của mình vào khuôn khổ thì luôn có những nhóm người yếu thế, như phụ nữ, người có HIV, người bị buôn bán hay vị thành niên, “mắc kẹt” trong hệ thống quản lý và không thực sự có được “quyền công dân” theo ý nghĩa đầy đủ của từ này. Và như vậy, các tranh luận và vận động cho quyền và công bằng xã hội cho các nhóm yếu thế không thể nằm ngoài sự phân tích về quản trị nhà nước và chính trị đối với các vấn đề sức khỏe và tình dục của người dân. Cuối cùng, Ban Biên tập sẽ giới thiệu tới bạn đọc Mô hình lý thuyết sinh thái xã hội, thông qua bài viết về một hội thảo được Trung tâm Thông tin Tư liệu tổ chức gần đây, với diễn giả là GS. TS. Michael L. Tan từ Trường Đại học tổng hợp Philippines. Đây là một mô hình lý thuyết rất hữu ích cho các nghiên cứu về tình dục vì nó giúp phân tích vấn đề từ nhiều cấp độ - hành vi và tâm lý của cá nhân, cho tới các mối quan hệ gia đình và cộng đồng, các thể chế xã hội, bối cảnh lịch sử - văn hóa – hệ tư tưởng, và cả sự thay đổi, tương tác theo thời gian giữa các yếu tố bên ngoài với các cá nhân. Một lần nữa, thông qua Mô hình lý thuyết sinh thái xã hội, bạn đọc sẽ nhìn rõ hơn sự tương tác giữa hệ thống quản trị vĩ mô với sự định hình của bản dạng và hành vi của các cá nhân đơn lẻ. Là số cuối cùng của năm 2011, Ban biên tập bản tin hy vọng các bàn luận về chính trị và tình dục này sẽ giúp bạn đọc có sự nhìn lại quan trọng với các chính sách và chương trình về sức khoẻ sinh sản và tình dục đã thực hiện cũng như các kế hoạch đang chuẩn bị trước thềm 2012. Chúc các bạn một năm mới Nhâm Thìn sức khỏe, hạnh phúc và chúc cho các nỗ lực về “công bằng xã hội” thành công. Bạn đọc vui lòng xem nội dung chi tiết ‘Điểm tin Giới và Tình dục’ tiếng Việt và tiếng Anh tại đây. Ban biên tập rất mong tiếp tục nhận được ý kiến phản hồi của độc giả về bản tin cũng như những gợi ý về chủ đề, sách hay và thông tin về các chương trình dự án. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ
Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) Số 2, ngách 49/41 Huỳnh Thúc Kháng, Hà Nội ĐT: 844- 3577 0261 Fax: 844 – 3577 0260 Email: gsh@ccihp.org, nga@ccihp.org Website: http://ccihp.org
Trân trọng, Bs. Th.S Hoàng Tú Anh Giám đốc trung tâm
| | | Số lượt đọc:
31
-
Cập nhật lần cuối:
24/01/2012 02:41:09 AM |
Về trang trước
Bản in
Gửi email
Về đầu trang |
|
|
|
|
|